Tuy nhiên, trong bối cảnh gia tăng áp lực khai thác trong những năm gần đây, nguồn lợi thủy sản tự nhiên tại vùng ven bờ và vùng lộng tỉnh Nghệ An đang có xu hướng suy giảm rõ rệt. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hoạt động khai thác thủy sản chưa bền vững, bao gồm việc sử dụng ngư cụ cũng như sự gia tăng áp lực từ số lượng tàu cá hoạt động ở vùng ven bờ. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp nhằm bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi hải sản tại vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Nghệ An.

Nhận thức được tính cấp thiết và tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật biển, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Hải sản triển khai nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá và xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn biển Hòn Ngư – Đảo Mắt, tỉnh Nghệ An”. Nhiệm vụ được thực hiện trong thời gian 14 tháng (từ tháng 10/2025 đến tháng 11/2026), nhằm xây dựng cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch Khu bảo tồn biển Hòn Ngư – Đảo Mắt.

                              Hình 1. Khu vực khảo sát vùng biển Hòn Ngư                                 Hình 2. Khu vực khảo sát vùng biển Đảo Mắt

Nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi biển khu vực Hòn Ngư – Đảo Mắt được triển khai qua 02 chuyến khảo sát đại diện cho hai mùa gió Đông Bắc và Tây Nam, nhằm đánh giá biến động theo mùa của điều kiện môi trường và tài nguyên sinh vật biển, đồng thời điều tra các yếu tố kinh tế – xã hội nghề cá, chính sách và năng lực quản lý địa phương, phục vụ công tác quy hoạch Khu bảo tồn biển Hòn Ngư – Đảo Mắt.

Năm 2025, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện chuyến khảo sát vào mùa gió Đông Bắc, tập trung đánh giá điều kiện môi trường, hiện trạng các hệ sinh thái biển và nguồn lợi sinh vật tại khu vực nghiên cứu. Việc điều tra hệ sinh thái được thực hiện bằng phương pháp Manta-tow kết hợp thiết bị sonar quét địa hình đáy nhằm xác định phạm vi phân bố và cấu trúc các hệ sinh thái điển hình. Đồng thời, khảo sát chi tiết bằng phương pháp lặn SCUBA tại 30 trạm (12 trạm tại Hòn Ngư và 18 trạm tại Đảo Mắt), bao gồm ghi nhận hình ảnh sinh thái và thu thập mẫu các nhóm sinh vật chủ yếu như san hô, cá rạn san hô, động vật đáy, rong và cỏ biển.

Bên cạnh điều tra sinh học, đề tài tiến hành thu thập mẫu môi trường nước biển để phân tích các thông số môi trường nền, bao gồm nhiệt độ, độ mặn, độ đục, pH và DO, hàm lượng các muối dinh dưỡng vô cơ hòa tan (NH₄⁺, NO₂⁻, NO₃⁻, PO₄³⁻), cũng như dầu mỡ và cyanua. Đồng thời, điều tra sinh vật phù du và nguồn lợi ấu trùng được thực hiện thông qua thu mẫu thực vật phù du, động vật phù du, trứng cá – cá con và ấu trùng tôm – tôm con bằng các loại lưới chuyên dụng, nhằm đánh giá tiềm năng tái tạo nguồn lợi thủy sản của khu vực nghiên cứu.

Chuyến khảo sát tiếp theo, dự kiến thực hiện vào mùa gió Tây Nam, sẽ tiếp tục áp dụng phương pháp và địa điểm khảo sát tương tự chuyến mùa gión Đông Bắc nhằm so sánh, đánh giá biến động theo mùa của môi trường và nguồn lợi, qua đó hoàn thiện cơ sở khoa học phục vụ xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn biển Hòn Ngư – Đảo Mắt, tỉnh Nghệ An.

                            Hình 3.  Khảo sát bằng phương pháp lặn SCUBA                                Hình 4. Điều tra, thu thập mẫu sinh vật phù du

Kết quả khảo sát năm 2025 cho thấy khu vực Hòn Ngư – Đảo Mắt có tính đa dạng sinh học cao, với sự hiện diện của nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế và một số loài san hô quý hiếm đang bị đe dọa. Đây là cơ sở quan trọng để nhóm nghiên cứu tiếp tục triển khai các đợt điều tra bổ sung trong năm 2026, nhằm hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch và thành lập Khu bảo tồn biển Hòn Ngư – Đảo Mắt.

Hoàng Văn Chung