Hiện trạng nghề cá ở cù lao chàm, những lợi thế và thách thức trước mắt
1. GIỚI THIỆU
Quảng Nam thường được biến đến với phố cổ Hội An và ‘‘đảo xanh huyền diệu Cù Lao Chàm“ có bãi biển, san hô và món rau rừng, cua đá nổi tiếng. Khía cạnh quan trọng đối với sinh kế của cộng đồng ngư dân địa phương, nghề khai thác hải sản, còn chưa được quan tâm đúng mức. Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo nhỏ, lớn nhất là Hòn Lao (Hòn Biên) với Bãi Làng, Bãi Ông, thôn Cấm, bãi Hương, thôn Bảy, thôn Hai với tổng diện tích ước tính khoảng 1.549 ha. Phần lớn diện tích của Hòn Lao được bao phủ bởi rừng tự nhiên, khoảng 1.535 ha. Từ năm 2003, khu bảo tồn biển (KBTB) Cù Lao Chàm bắt đầu được đưa vào hoạt động với sự hỗ trợ của Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA) và UBND tỉnh Quảng Nam. Kế tiếp Hòn Mun, Cù Lao Chàm là 1 trong 15 khu bảo tồn biển được ưu tiên lựa chọn xây dựng mô hình điểm về bảo tồn đa dạng sinh học, thông qua hoạt bảo tồn (MPA) và các chính sách chuyển đổi nghề, hỗ trợ, tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng, tạo sinh kế thay thế...
Cơ sở hạ tầng của Cù Lao Chàm nói chung còn nghèo nàn, cầu, cảng cá nhỏ. Dịch vụ hậu cần như: cung cấp nhiên liệu, ngư cụ, thu mua sản phẩm còn manh mún, ngư dân chủ yếu bán sản phẩm trên biển cho các tàu thu mua. Cư dân chỉ được sử dụng điện sinh hoạt khoảng 4 giờ/ngày bằng máy phát. Hầu hết hàng hoá, vật tư, nhiên liệu cần cho sinh hoạt, sản xuất phụ thuộc vào đất liền thông qua đường thuỷ cách Cửa Đại khoảng 18km với 1 chuyến/ngày. Theo số liệu thống kê gần đây, Cù Lao Chàm có khoảng 3.000 cư dân thuộc 650 hộ, trong đó, phần lớn số hộ dân làm nghề khai thác hải sản, khoảng 60%. Phần lớn tàu thuyền khai thác hải sản thô sơ, máy đã qua sử dụng, công suất nhỏ (chủ yếu dưới 20CV), số phương tiện được trang bị máy có công suất dưới 10CV chiếm 43%. Chiều dài vỏ tối đa của các phương tiện này phổ biến từ 8,5 đến 10,5m. Đánh bắt hải sản là nghề truyền thống của cư dân địa phương, ngư cụ chính là lưới rê: lưới kình, lưới dí, lưới dày, lưới nhói, lưới thưa, rê ba lớp, rê mực...,bên cạnh đó còn có các nghề mành đèn, mành mực, câu vàng, lặn... Ngư trường hoạt động chính của các phương tiện thuộc Cù Lao Chàm là ở trong và quanh các KBTB, vụ khai thác tập trung là mùa gió Đông Bắc.
Bài viết này trình bày một số nét chính về hiện trạng nghề cá Cù Lao Chàm với những lợi thế và khó khăn, cũng như sinh kế của ngư dân địa phương. Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ Dự án Hợp phần sinh kế bền vững ở trong và quanh các khu bảo tồn biển (LMPA). Trên cơ sở nguồn số liệu điều tra còn hạn chế, việc phản ánh toàn diện nghề cá của địa phương là không thể. Tuy nhiên, đây là một trong những cơ sở khoa học bước đầu phục vụ cho việc quản lý nghề cá thích ứng cũng như phục vụ công tác bảo tồn biển, định hướng phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng ngư dân quanh và trong các khu bảo tồn biển theo hướng bền vững.
2. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thông tin kinh tế xã hội hoạt động của đội tàu (ngư cụ) được điều tra, phỏng vấn qua bảng câu hỏi và đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA). Điều tra nghề cá thương phẩm được tiến hành tại các bến cá theo hướng dẫn của Sparre (1998). Năng suất khai thác (CPUE), thành phần sản lượng, kích thước khai thác...được ước tính theo phương pháp thống kê mô tả thông thường. Chi phí sản xuất được tính là chi phí biến đổi do đó, ở đây chi phí cố định không được đề cập đến do hạn chế về thời gian, nhân lực ....
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ cấu nghề
Theo số liệu thống kê của UBND Xã Tân Hiệp (2008), tổng số thuyền gắn máy của Cù Lao Chàm có khoảng 228 chiếc, ứng với tổng công suất máy khoảng 2.313CV. Số lượng phương tiện gắn máy dưới 10CV có khoảng 101 chiếc, chiếm 44,3%. Bên cạnh đó còn một số lượng đáng kể các phương tiện đánh bắt hải sản không trang bị động cơ như thuyền, mủng (thúng chai)… Số lượng phương tiện khai thác hải sản tập trung nhiều ở Bãi Làng, đây cũng là địa phương có công suất máy trung bình của phương tiện lớn nhất, 12CV. Thôn Cấm và Bãi Hương có công suất máy trung bình nhỏ hơn, khoảng 9CV, Bãi Ông (10CV). Ước tính chung, công suất máy trung bình của các phương tiện gắn máy hoạt động đánh bắt hải sản ở đây chỉ khoảng 10CV.
3.2. Số lao động trung bình theo nghề
Phần lớn phương tiện khai thác hải sản được quản lý theo hộ gia đình, số lượng nhân công tham gia trên thuyền không nhiều, nhiều nhất là nghề mành khoảng 3 - 7 người/thuyền; nghề lặn (3-5 người/thuyền), nghề lưới hai, lưới dày và lưới rê chỉ khoảng 1 - 2 người/thuyền. Với những phương tiện có số lượng nhân công là 2, thường có quan hệ gia đình như vợ chồng hoặc cha con. Với khoảng trên 200 phương tiện có đăng ký, số lượng lao động đánh bắt hải sản ở đây khoảng 700 - 800 người. Bên cạnh đó, một lượng không nhỏ ngư dân đánh bắt ven bờ đảo bằng các phương tiện không lắp máy như thuyền thúng, mủng…. Đồng thời, một số lượng cư dân tham gia các hoạt động sản xuất liên quan như dịch vụ thu mua, vận chuyển cá, dịch vụ ngư cụ, chế biến cá khô và nước mắm (nghề mới được BQL khu bảo tồn biển tập huấn), sửa chữa ngư cụ (thi công lắp ráp, vá lưới…).
3.3. Mức độ đầu tư, trình độ công nghệ
Phần lớn tàu thuyền tham gia khai thác hải sản của cộng đồng ngư dân Cù Lao Chàm có công suất máy nhỏ, chủ yếu khoảng 10CV, máy tàu đã qua sử dụng. Vỏ tàu thuyền được đóng bằng gỗ, kích thước phổ biến khoảng 8,5 – 10,0 m. Các phương tiện làm nghề lưới hai, lưới dày được trang bị máy có công suất nhỏ, chỉ vài ba mã lực, cấu tạo đơn giản và thường được đóng bằng tre, gỗ, khoang chứa và bảo quản rất thô sơ. Toàn bộ các phương tiện đều không được trang bị thiết bị hàng hải như định vị, máy dò sâu, bộ đàm… Nhìn chung, mức độ đầu tư của ngư dân đối với phương tiện khai thác thấp, trình độ khai thác lạc hậu, giản đơn.
3.4. Quy mô sản xuất
Đa phần các phương tiện hoạt động theo mô hình sản xuất gia đình, quan hệ lực lượng sản xuất chủ yếu là vợ chồng, cha con (nghề lưới rê ba lớp, lưới then hai, lưới then ba), những nghề có quan hệ giữa chủ phương tiện với “bạn” không nhiều, điển hình là nghề câu vàng, mành điện. Quy mô sản xuất nhỏ ngoài việc được phản ánh qua lực lượng lao động, quan hệ lao động chủ yếu là gia đình, đầu tư thấp, công nghệ lạc hậu, thêm vào đó là thời gian chuyến biển ngắn. Nghề lưới dày, lưới hai, lưới rê ba lớp có khi chỉ đi về trong khoảng vài giờ (đi biển lúc 4 giờ sáng và về bờ khoảng 8 giờ sáng). Những nghề có thời gian bám biển dài hơn cũng chỉ đa phần chiếm khoảng 2 ngày, một số ít phương tiện làm nghề câu vàng, lưới rê cá thu có thời gian chuyến biển dài hơn, khoảng 7 ngày. Chi phí sản xuất thấp, an toàn hàng hải kém…
3.5. Mùa vụ, ngư trường
Mùa vụ khai thác chính của nghề khai thác hải sản ở trong và quanh các khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm là mùa gió Đông Bắc, từ tháng 11 đến tháng 4 âm lịch. Riêng nghề lặn, nghề câu vàng có thể hoạt động gần như quanh năm. Ở mùa gió Đông Bắc, nghề lặn khai thác chủ yếu là tôm hùm thương phẩm. Trong khi đó, ở mùa gió Tây Nam nghề này chủ yếu bắt ốc gai, ốc nghệ, bàn mai, bào ngư (lặn ngày) hoặc cá (lặn đêm). Đối với nghề lưới rê ba lớp, nghề lưới mực, mùa gió Đông Bắc khai thác chủ yếu là mực nang (nang vân hổ (Sepia pharaonis), nang mắt cáo (Sepia lycidas)), trong mùa gió Tây Nam nghề này chuyển sang khai thác chủ yếu là cá bò giấy (Alutera monoceros). Tuy vậy, ngư dân ở bãi Hương và một số ngư dân ở bãi Làng thường đánh bắt kiêm nghề. Điển hình là sự kết hợp giữa các nghề như: nghề lưới hai, nghề lưới dày với nghề lưới rê ba lớp. Nghề mành điện kết hợp với câu tay mực. Nghề lưới thưa với mành đèn, câu tay mực… Vì vậy, hoạt động kiêm nghề diễn ra khá phổ biến. Đặc thù của nghề cá địa phương là quy mô nhỏ, thủ công, mức độ đầu tư không nhiều và phụ thuộc nhiều vào tính mùa vụ.
3.6. Năng suất khai thác
Nghề lặn có năng suất tương đối cao, khoảng 18kg/người/ngày. Sản lượng khai thác chủ yếu là Bàn mai (hay còn gọi là Điệp đất), giá trị khoảng 20.000 - 25.000 đ/kg. Bên cạnh đó, ốc gai, ốc nghệ, ốc nón thường chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng sản lượng đánh bắt của nghề. Nghề lặn đêm chủ yếu là khai thác nhóm cá xô (cá hồng, cá hè, cá mú...). Nghề câu vàng cho năng suất khai thác khá ổn định, tuy nhiên, năng suất khai thác cũng chỉ đạt khoảng 7kg/1000 lưỡi câu/ngày. Nghề câu vàng thường xuất phát đi biển vào khoảng 18 - 20 giờ và cập bến khoảng 10 giờ sáng, đa phần ngư dân bán sản phẩm trên biển. Do đó, số lượng mẻ câu trong một chuyến không nhiều, thường là một mẻ. Những nghề còn lại như lưới hai, lưới dày, lưới ba lớp... cho năng suất không cao, dao động từ 2 đến 8 kg/km lưới/ngày.
3.7. Hiệu quả kinh tế
Hầu hết các nghề đang hoạt động đều có lợi nhuận. Riêng nghề mành đèn, chỉ có vài chiếc hoạt động ở thời điểm điều tra (8/2008), đa phần những phương tiện này đều hoạt động không có hiệu quả. Thời gian còn lại trong tháng tất cả các thuyền làm nghề mành đèn đều nằm bờ, do doanh thu không đủ chi cho phí tổn hoạt động. Hình thức ăn chia sản phẩm của các phương tiện đánh bắt hải sản ở Cù Lao Chàm về cơ bản là giống nhau. Với những ghe có nhân công (bạn), sản phẩm được chia làm 2 phần sau khi đã trừ phí tổn hoạt động, một phần cho phương tiện (tàu thuyền, ngư cụ, máy móc và các thiết bị liên quan làm nghề), phần còn lại chia đều cho các nhân công tham gia đánh bắt. Như vậy, với cách ăn chia như trên, một lao động nghề câu vàng ở thời gian khảo sát có thu nhập trung bình khoảng 50.000 đ/ngày. Trong khi đó, nghề lặn có thu nhập khoảng 150.000 - 200.000 đ/ngày. Những nghề còn lại cũng cho thu nhập tương ứng khoảng 50.000 đ/người/ngày. Tuy nhiên, đặc thù công việc (chuyên môn, thời gian và cường lực lao động, rủi ro lao động…) cũng như mức độ đầu tư của các nghề này hoàn toàn khác nhau.
3.8. Những vấn đề nổi cộm
Những vấn đề bức xúc của cộng đồng ngư dân địa phương khai thác hải sản ở trong và quanh các khu bảo tồn bao gồm: chuyển đổi cơ cấu nghề, tồn tại mâu thuẫn hay cạnh tranh với các cộng đồng khác và vấn đề bao tiêu sản phẩm. Theo phản ánh của ngư dân địa phương, có khá nhiều phương tiện ở các địa phương khác đến khai thác ở quanh các khu bảo tồn biển, điển hình là nghề lưới kéo đáy (cào), vây ánh sáng, lặn. Nghề lưới kéo đặc biệt nguy hại đến nền đáy, các nền rạn san hô, rong, cỏ biển. Sản lượng khai thác bao gồm cả các loại cá có giá trị kinh tế còn non (cá chưa trưởng thành, chưa đạt kích cỡ khai thác cho phép…). Do vậy, nghề này ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi và hệ sinh thái trong khu vực. Bên cạnh đó, nghề lưới vây, mành đèn với công suất bóng thắp sáng sử dụng cao, cường độ ánh sáng mạnh ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi hải sản khu vực này. Đặc biệt là nguồn lợi bổ sung (cá con, ấu trùng…).
Ngư dân địa phương cũng phản ánh nhiều hiện tượng các tàu thuyền làm nghề lặn ở các địa phương khác, khai thác tôm hùm, bào ngư, điệp… bừa bãi, đa phần là những cá thể còn chưa trưởng thành. Những phương tiện này hàng năm khai thác nguồn lợi ở trong và quanh các khu bảo tồn với sản lượng không nhỏ. Chủ yếu là các phương tiện đến từ Quảng Ngãi, Bình Định, Đà Nẵng… Ngư dân Cù Lao Chàm, đặc biệt là nhóm người làm nghề lặn hết sức bức xúc với nhóm người làm nghề lặn từ nơi khác đến. Vấn đề chuyển đổi cơ cấu nghề còn gặp nhiều khó khăn, việc đóng tàu có công suất lớn hơn không chỉ đòi hỏi đầu tư về tài chính mà còn vấn đề kỹ thuật sử dụng, tập tục địa phương và ngư trường. Cơ hội việc làm thay thế còn hết sức khó khăn, hoạt động du lịch chưa thể phát triển được. Cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, hệ thống điện sinh hoạt chưa có. Trình độ dân trí còn chưa cao, khó đáp ứng được các yêu cầu của dịch vụ du lịch. Nhóm nghề lặn cần được ưu tiên chuyển đổi nghề nhằm bảo vệ rạn san hô, đa dạng sinh học hệ sinh thái rạn san hô. Tuy vậy, người dân chưa sẵn sàng chuyển đổi do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân thiếu vốn đầu tư nghề khác. Ngoài ra, chính sách chuyển đổi từ nghề đánh bắt hải sản này sang hình thức đánh bắt khác còn chưa được khuyến khích.
4. THẢO LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Cơ cấu nghề đánh bắt hải sản của địa phương khá đa dạng, chủ yếu tập trung vào các nghề lưới rê, nghề câu vàng đáy, nghề mành đèn, nghề lặn, tổng số phương tiện được UBND xã Tân Hiệp thống kê là 228. Công suất máy phổ biến với nghề lưới rê khoảng 5CV, nghề lặn (10 - 15CV). Nghề mành đèn có công suất máy và số lượng nhân công khoảng 15CV và thường đi cặp đôi. Trang thiết bị còn thủ công, thô sơ, máy tàu đã qua sử dụng, vỏ gỗ, thiết bị bảo quản không có. Hầu hết thao tác khai thác bằng biện pháp thủ công. Đa dạng nghề là lợi thế lựa chọn đối tượng khai thác, cũng như mùa vụ đánh bắt, đồng thời, đầu tư ít giúp cho ngư dân dễ dàng, nhanh nhẹn chuyển đổi nghề nhằm đảm bảo sinh kế trước mắt.
Hoạt động kiêm nghề nhằm tăng thu nhập, giảm thiểu chi phí sản xuất, tranh thủ thời gian rảnh và đa dạng sản phẩm khai thác. Hầu hết các nghề có mùa vụ khai thác chính là mùa gió Đông Bắc, tập trung nhiều và đánh bắt có hiệu quả vào khoảng tháng 11 đến tháng 4 âm lịch. Tuy nhiên, có một số nghề có thể hoạt động quanh năm như nghề câu vàng, nghề lặn. Đa phần các nghề có hoạt động kiêm nghề, ngư dân có thể vừa đánh lưới dày vừa đánh lưới then ba, vừa đánh bắt bằng mành đèn đồng thời kết hợp với câu tay mực.
Dịch vụ nhiên liệu, cầu cảng còn khó khăn, thương mại sản phẩm chủ yếu trên biển, một phần sản phẩm được bán tại các điểm lên cá của địa phương hoặc bán trực tiếp cho các tàu thu mua trực tiếp trên biển. Vào mùa khai thác chính, ngư dân thường bị ép giá bán. Đây là một trong những khó khăn chính của ngư dân. Ngư dân thường bị tăng chi phí và giảm giá bán sản phẩm, phần lợi nhuận đáng kể rơi vào túi của chủ nậu, chủ vựa. Việc vay vốn ngân hàng đầu tư nâng cấp tàu thuyền, ngư cụ còn gặp khó khăn, cơ sở hạ tầng kém, hệ thống điện sinh hoạt chưa có, cơ hội kiếm việc làm thay thế thấp. Điều này tạo ra áp lực trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng và qua đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi và hệ sinh thái ở khu bảo tồn biển. Năng suất khai thác của nghề lặn, nghề câu khá ổn định, nghề lưới rê ba lớp, nghề mành đèn khai thác với rủi ro nhiều về hiệu quả, đặc biệt là nghề mành đèn, vì đây là nghề có chi phí sản xuất cao hơn cả. Nghề lặn có năng suất khai thác khá ổn định, phần lớn sản lượng có giá trị không cao (chủ yếu là bàn mai). Đồng thời đây là nghề có nhiều nguy hiểm về an toàn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây hại hệ sinh thái rạn san hô. Tuy nhiên, cần nghiên cứu kỹ giải pháp cho ngư dân, ưu tiên số hộ làm nghề này cho vay vốn chuyển đổi nghề đánh bắt hải sản vùng ngoài khu bảo tồn hoặc tạo công việc thay thế khác. Đây là vấn đề cần có sự kết hợp giữa nhiều cơ quan, ban ngành hay – theo mô hình “đồng quản lý”.
Quy mô sản xuất thủ công, manh mún, tự phát là những khó khăn cho việc thống kê, ước tính sản lượng, năng suất khai thác… Đặc biệt là sự kiêm nghề, sản phẩm được trộn lẫn giữa các loại ngư cụ. Nhận thức của ngư dân về vấn đề thu thập số liệu thống kê còn chưa rõ. Thông tin đầu vào cho công tác tư vấn, quản lý nghề cá gặp nhiều khó khăn dễ dẫn đến quyết định quản lý không phù hợp sẽ dẫn đến rủi ro cho sinh kế cũng như tính bền vững của nguồn lợi hải sản. Nhân lực kiểm soát các hoạt động khai thác ở KBTB còn hạn chế kinh phí... vì vậy, khai thác bất hợp pháp của ngư dân từ nơi khác đến chưa kiểm soát được chặt ảnh hưởng đến nguồn lợi và đặc biệt là ý thức, tư tưởng của ngư dân địa phương về khai thác và bảo vệ nguồn lợi.
Nên xây dựng đề án đồng quản lý nghề cá cho cộng đồng ngư dân trên đảo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thu Hiền, 2006. Điều tra cơ sở Kinh tế - Xã hội Cù Lao Chàm. Công ty Tư vấn kinh tế Mê Kông.
2. UBND Xã Tân Hiệp, 2008. Danh sách phương tiện Xã Tân Hiệp. Tài liệu lưu hành nội bộ. Cù Lao Chàm, Quảng Nam.
3. Sparre, P., Urin. et al., 1998. Introduction to tropical fish stock assessment. Part I. FAO Fisheries Technical Paper. No,306.1. Rome, FAO.
Nguyễn Bá Thông (Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản) Nguyễn Văn Minh (Viện Nghiên cứu Hải sản) Nguyễn Hữu Trung (Ban Quản lý Dự án LMPA)