Về đầu trang

























Nguồn lợi biển
HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI HẢI SẢN Ở VIỆT NAM: TÓM TẮT CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRÊN TÀU KOYO-MARU Ở VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG VIỆT NAM TRONG CÁC CHUYẾN ĐIỀU TRA THÁNG 11/2008 VÀ THÁNG 11/2009

1. MỞ ĐẦU

Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu giữa Đại học Thủy sản Nhật Bản (NFU), Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) với Viện Nghiên cứu Hải sản (RIMF), tháng 11/2008 và tháng 11/2009, tàu nghiên cứu Koyo Maru đã tiến hành khảo sát, thu mẫu ở vùng biển miền Trung Việt Nam. Mục tiêu của các chuyến biển này nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam và đào tạo các sinh viên của Trường Đại học Thủy sản Nhật Bản.

Nội dung nghiên cứu của hai chuyến khảo sát tập trung vào các lĩnh vực sau đây: (i) Đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vùng biển miền Trung Việt Nam bằng phương pháp điều tra thủy âm; (ii) Thu thập, phân tích mẫu sinh học thu được từ lưới kéo trung tầng, thu mẫu trứng cá-cá con, sinh vật phù du; và (iii) Nghiên cứu hải dương học sử dụng các thiết bị chuyên dụng thu mẫu như CTD và XBT.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vùng biển nghiên cứu

Vùng biển nghiên cứu được giới hạn từ vĩ tuyến 11oN-15oN, và từ kinh độ 109o30-110o20E. Các đường dò thủy âm được bố trí theo các mặt cắt song song với đường vĩ tuyến, khoảng cách giữa các mặt cắt là 30 hải lý (Line 1-9: Hình 1). Trên các mặt cắt, hệ thống các trạm đo đạc các yếu tố hải dương được bố trí cố định.

Hình 1. Sơ đồ hệ thống trạm điều tra ở vùng biển miền trung Việt Nam (2008-2009)

2.2 Tàu và trang bị nghiên cứu

Các chuyến biển đã được thực hiện bằng tàu Koyo Maru (Hình 2) mang quốc tịch Nhật Bản. Đây là tàu nghiên cứu kết hợp đào tạo của NFU. Tàu được trang bị các thiết bị công nghệ tiên tiến như hệ thống máy dò thủy âm đa tần số (Hình 3) phục vụ hoạt động điều tra đánh giá nguồn lợi và phân bố cá cá biển, hệ thống thiết bị nghiên cứu hải dương học (CTD, XBT: Hình 4), hệ thống thiết bị tự động điều khiển ngư cụ (lưới kéo trung tầng, lưới kéo sinh vật phù du, lưới kéo trứng cá-cá con: Hình 5), và các thiết bị hàng hải tiên tiến khác.

2.3 Điều tra thủy âm

Tàu Koyo Maru sử dụng hệ thống máy dò thủy âm đa tần SIMRAD-ER60, gồm 05 tần số khác nhau: 18, 38, 70, 120 và 200 kHz. Các đầu dò được lắp đặt trực tiếp vào đáy tàu. Thiết bị thủy âm được hiệu chỉnh trước khi tiến hành các chuyến điều tra. Trên các đường dò thủy âm, tốc độ hành trình của tàu nghiên cứu khoảng 08 hải lý/giờ. Tín hiệu thu thập được từ đầu dò thủy âm được chuyển đổi, khuyếch đại sau đó truyền về máy tính và được lưu lại dưới định dạng ER60, bao gồm toàn bộ các thông tin thu thập được trên đường dò (thời gian, vị trí, độ sâu và các tín hiệu phản hồi âm khác).

2.4 Điều tra hải dương học

Hai loại thiết bị chuyên dụng được sử dụng bao gồm: hệ thống thiết bị đo đạc các yếu tố hải dương CTD (Conductivity, Temperature, and Depth) hiệu SBE của công ty SEABIRD và XBT (Expendable Bathythermograph) của công ty The Tsurumi Seiki (TSK). Trong hai chuyến khảo sát trên, hệ thống thiết bị CTD được sử dụng chỉ để đo các yếu tố hải dương chủ yếu như nhiệt độ nước biển, độ muối và hàm lượng oxy hòa tan trong nước biển,…; trong khi đó, XBT được sử dụng thay thế CTD ở một số trạm để đo nhiệt độ nước biển theo độ sâu. Thời gian điều tra hải dương học diễn ra đồng thời với thời gian điều tra thủy âm.

Trên mỗi đường dò thủy âm có 05 trạm điều tra hải dương học trong đó có 03 trạm sử dụng CTD xen kẽ với 02 trạm sử dụng XBT. CTD được gắn 02 bộ cảm biến: bộ cảm biến chính dùng để đo nhiệt độ, độ muối, hàm lượng ô-xy hòa tan,... từ tầng nước bề mặt về phía đáy biển (khi thả CTD); trong khi đó, cảm biến phụ dùng để đo các yếu tố này khi thu CTD. CTD được kết nối với hệ thống máy tính thông qua các cáp truyền dữ liệu. Toàn bộ dữ liệu thu được ở mỗi trạm được lưu trữ theo 03 dạng: dạng thông tin hình ảnh, dữ liệu thô và dạng dữ liệu ASCII.

Thiết bị XBT có 01 cảm biến đo nhiệt độ theo độ sâu khi được bắn xuống biển. Cảm biến này chỉ được sử dụng một lần. Dữ liệu thu được ở mỗi trạm XBT cũng được lưu trữ dưới 03 dạng như trên.

2.5 Thu mẫu sinh học

Mẫu sinh học được thu thập trên các đường dò thủy âm khi tín hiệu đàn cá hoặc các sinh vật khác được ghi lại dưới dạng hình ảnh tích phân âm. Ba loại ngư cụ được sử dụng để thu mẫu sinh học, gồm: (i) lưới kéo trung tầng (Mid-water trawl net), (ii) lưới kéo sinh vật phù du (MOCNESS net) và (iii) lưới kéo trứng cá-cá con (MOHT net). Tất các các loại lưới này được gắn các bộ cảm biến được kết nối với hệ thống thiết bị chuyên dụng để hiện thị lên màn hình quan sát phục vụ cho việc điều khiển tự động quá trình hoạt động của lưới.

Lưới kéo trung tầng và lưới kéo ấu trùng-cá con được thả ở độ sâu phát hiện cá/ấu trùng-cá con thông qua tín hiệu hình ảnh điều tra thủy âm. Hai loại lưới này được kéo với tốc độ là 05 hải lý/h. Trong khi đó, lưới kéo sinh vật phù du có nhiều đụt lưới cũng được thả ở các độ sâu có tín hiệu sinh vật phù du từ thiết bị thủy âm nhưng tốc độ kéo lưới là 02 hải lý/giờ. Tàu Koyo Maru lắp đặt thiết bị chuyên dụng có thể tự động điều khiển chế độ đóng/mở miệng lưới của mỗi đụt lưới giúp cho việc thu mẫu sinh vật phù du ở nhiều tầng nước khác nhau chỉ cần một lần thả lưới.

Thời gian thả lưới được thực hiện cả ban ngày và ban đêm. Hình ảnh trực quan về quá trình thả lưới được mô tả qua Hình 6.

Hình 6. Hình ảnh mô tả hoạt động thu mẫu sinh học trên tàu KOYO MARU

3. Một số hình ảnh về các hoạt động nghiên cứu

Thu mẫu sinh học: màn hình hiển thị việc điều khiển các hoạt động thu mẫu sinh học (Hình 11-14)

Thành phần loài lưới kéo trung tầng (Ảnh A1-6):

Thành phần loài lưới kéo trung tầng (A7-12):

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bách Văn Hạnh (2008). Tóm tắt các hoạt động nghiên cứu trên tàu Koyo-Maru ở vùng biển Việt Nam từ ngày 8-16/11/2008. Báo cáo chuyến đi. Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng.

2. Bách Văn Hạnh (2009). Tóm tắt các hoạt động nghiên cứu trên tàu Koyo-Maru ở vùng biển Việt Nam từ ngày 5-17/11/2009. Báo cáo chuyến đi. Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng.

Bách Văn Hạnh - Viện Nghiên cứu Hải sản


tạo trang in  In bài viết Đăng ngày: 13/1/2010  

TIN ĐÃ ĐƯA

ĐA DẠNG LOÀI CÁ ĐÁY Ở VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ . (12/08/2010)
Mô tả Đời sống biển: trai tai tượng. (20/07/2010)
Sát thủ trong suốt dưới đại dương. (01/07/2010)
Nguồn lợi động vật thân mềm hai mảnh vỏ (BIVALVIA) tại một số vùng rừng ngập mặn điển hình ven biển Việt Nam . (09/12/2009)
Một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản nhóm cá hải quỳ Pomacentridae . (09/11/2009)
Cơ hội cho ngư dân và DN vùng Tây Nam. (26/10/2009)
Chuyển biến rõ rệt qua Tháng hành động bảo vệ nguồn lợi thủy sản . (26/10/2009)
 TRAO QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BỔ NHIỆM CÔNG CHỨC GIỮ CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO

 Viện Nghiên cứu Hải sản thông báo tuyển nghiên cứu sinh năm 2010

 BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP NHÀ NƯỚC

Xem các tin đã được xuất bản thành tạp chí
 Nuôi sá sùng: Hướng đi mới cho vùng biển Quảng Ninh

 Mô phỏng vỏ ốc để làm áo giáp, mũ bảo hiểm...

 Sên biển: Biết gọi là con hay cây?

 Kết quả chuyển giao công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá bớp tại 6 tỉnh ven biển Miền Bắc

 Lo ngại

























Tỉ giá ngoại tệ
Giá vàng SJC
Chứng khoán online
Truyền hình
Dự báo thời tiết