Về đầu trang

























Nguồn lợi biển
ĐA DẠNG LOÀI CÁ ĐÁY Ở VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ
Vùng biển Tây Nam Bộ là vùng biển kín giới hạn từ 105000E về phía Tây, ba mặt là đất liền, thông ra biển Đông ở phía Đông Nam với diện tích thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam khoảng 59.430 km2 (Đ. M. Sơn 2002). Thềm lục địa biển Tây Nam Bộ có độ sâu tăng dần tương đối đều đặn từ bờ ra giữa vịnh, nền đáy trong vịnh tương đối bằng phẳng, chỉ có khu vực cận đảo Phú Quốc địa hình đáy bị chia cắt phức tạp, có nhiều rãnh ngầm và đồi ngầm. Độ sâu vùng biển không lớn, thường 30-40m, chỗ sâu nhất không quá 80m (Bộ Thủy sản, 1996). Bờ biển lồi lõm với nhiều vụng, vịnh nhỏ, chất đáy chủ yếu là cát bột và cát. Thời tiết ở đây thể hiện hai mùa rõ rệt là Đông Bắc và Tây Nam với chế độ mưa, dòng chảy, độ mặn khác nhau tạo nên sự phong phú trong khu hệ sinh vật cư trú ở đó.
Môi trường biển
Diệt sao biển gai để bảo vệ san hô
Chiến dịch diệt sao biển gai bảo vệ san hô trong khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang được tỉnh Khánh Hòa phát động ngày 20/5 nhằm hưởng ứng ngày Đa dạng sinh học thế giới (22/5).
Khoảng 7.000 con sao biển gai ở một số vùng biển quanh khu bảo tồn biển như Hòn Nọc, Hòn Mun, Hòn Một... đã bị diệt trong ngày hôm qua, 20/5.

Đa dạng sinh học biển
ĐỘNG VẬT ĐÁY TRONG KHU BẢO TỒN BIỂN CỒN CỎ.
Động vật đáy là những động vật có đời sống liên quan với nền đáy. Các nhóm động vật đáy như giun nhiều tơ, giáp xác, thân mềm và da gai đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái. Nhiều loài động vật đáy là thức ăn của các loài sinh vật thuỷ sinh khác. Ngoài ra, nhiều loài giáp xác và thân mềm là nguồn thức ăn quí, có giá trị dinh dưỡng cao và là đối tượng đang được nuôi trồng phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vùng biển xung quanh đảo Cồn Cỏ được đánh giá là một trong những vùng có mức độ đa dạng sinh học cao của vịnh Bắc Bộ với sự có mặt của nhiều hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới, trong đó tiêu biểu là hệ sinh thái rạn san hô phát triển tốt. Vùng biển quanh đảo còn là khu vực tập trung các bãi đẻ của một số loài hải sản quí, có giá trị kinh tế cao và đặc hữu cho vùng biển Trung Bộ.
Công nghệ Sinh học
Sinh sản nhân tạo loài cá ngựa lớn nhất thế giới
Trong số 7 loài cá ngựa ở vùng biển Việt Nam, đã có 5 loài được cho sinh sản ở điều kiện thí nghiệm, trong đó loài cá ngựa thân trắng là loài quý hiếm nhất.
Cá ngựa thân trắng (Hippocampus kelloggi) là một trong số rất ít loài có kích thước lớn nhất trong giống Hippocampus. Hầu hết các loài cá ngựa trên thế giới có chiều dài nhỏ hơn 20cm. Nhưng loài cá ngựa thân trắng đạt kích thước cực đại đến 35cm; loài H. abdominalis phân bố ở Úc chỉ đạt tối đa 32cm.
Khai thác hải sản
Lần đầu tiên Việt Nam đánh bắt được cá Ngừ Đại Dương giống và vận chuyển thành công về vùng biển Miền Trung
Lần đầu tiên ở Việt Nam đánh bắt được cá ngừ đại dương giống và vận chuyển sống thành công về vùng ven biển miền Trung. Thành công này là tiền đề rất quan trọng cho việc phát triển nghề nuôi cá ngừ đại dương phục vụ xuất khẩu.
Hiện nay, cá ngừ đại dương đang bị khai thác với cường độ cao, nguồn lợi ngày càng suy giảm và có nguy cơ cạn kiệt. Vì vậy nhiều nước đang chú trọng phát triển nghề nuôi cá ngừ đại dương với qui mô công nghiệp. Cá ngừ hiện đang được nuôi tại nhiều quốc gia trên thế giới (Australia, Canada, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Na Uy, Nhật Bản, Malaysia, Philippin, Đài Loan…), tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có nơi nào nuôi thương phẩm, chủ yếu vẫn là khai thác tự nhiên. Những nước có sản lượng nuôi cá ngừ cao nhất là Australia, Tây Ban Nha và Mexico. Theo ước tính của FAO, năm 2004 sản lượng cá ngừ nuôi trên thế giới đã đạt 25.000 tấn
Sau thu hoạch
SÀNG LỌC CHỦNG VI SINH VẬT SINH CELLULASE SỬ DỤNG TRONG THỦY PHÂN BÃ THẢI AGAR
Hàng năm, nước ta sản xuất khoảng 500 tấn agar, tuy nhiên lượng phế thải hữu cơ trong quá trình chế biến agar rất cao khoảng 6 tấn phế thải trên 1 tấn sản phẩm. Trong bã thải agar, cellulose là thành phần hữu cơ chiếm tỷ lệ cao và rất khó bị phân hủy bởi cấu trúc phức tạp của nó. Trên thế giới hiện nay, người ta đã tiến hành xử lý phế liệu rong biển để làm thức ăn gia súc bằng một số phương pháp thủy phân trong môi trường kiềm hoặc axit [1]. Tuy nhiên việc phân hủy cellulose bằng phương pháp vật lý và hóa học rất phức tạp, tốn kém và gây độc hại cho môi trường. Trong khi đó, việc xử lý các chất thải hữu cơ chứa cellulose bằng công nghệ sinh học, đặc biệt sử dụng các enzyme cellulase ngoại bào từ vi sinh vật sẽ có nhiều ưu điểm về cả mặt kỹ thuật, kinh tế và môi trường. Số lượng các loài vi sinh vật tham gia sinh tổng hợp enzyme cellulase có trong điều kiện tự nhiên rất phong phú. Chúng thuộc nấm sợi, xạ khuẩn, vi khuẩn và trong một số trường hợp, các nhà khoa học còn thấy cả nấm men cũng tham gia qúa trình phân giải này [2].
Hợp tác Quốc tế
ANFACO-CECOPESCA viếng thăm không chính thức Viện Nghiên cứu Hải sản
Chiều ngày 11/6/2007, phái đoàn của Tổ chức ANFACO-CECOPESCA đã có chuyến viếng thăm không chính thức tại Viện Nghiện cứu Hải sản (RIMF). Mục đích của chuyến viếng thăm là tìm hiểu cơ sở vật chất nghiên cứu của Viện.
Đào tạo
NCS Che Phala đã bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp cơ sở tại Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Hải sản
Ngày 20/4/2007, NCS Che Phala đã bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp cơ sở tại Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Hải sản chuyên nghành Ngư loại học mang mã số 62.42.50.05.
 TRAO QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BỔ NHIỆM CÔNG CHỨC GIỮ CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO

 Viện Nghiên cứu Hải sản thông báo tuyển nghiên cứu sinh năm 2010

 BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP NHÀ NƯỚC

Xem các tin đã được xuất bản thành tạp chí
 Nuôi sá sùng: Hướng đi mới cho vùng biển Quảng Ninh

 Mô phỏng vỏ ốc để làm áo giáp, mũ bảo hiểm...

 Sên biển: Biết gọi là con hay cây?

 Kết quả chuyển giao công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá bớp tại 6 tỉnh ven biển Miền Bắc

 Lo ngại

























Tỉ giá ngoại tệ
Giá vàng SJC
Chứng khoán online
Truyền hình
Dự báo thời tiết